Triệu chứng polyp túi mật khác với triệu chứng bệnh lý túi mật khác không?

Triệu chứng polyp túi mật có khác với triệu chứng của bệnh lý túi mật khác như sỏi túi mật, viêm túi mật cấp và mãn tính không? Làm thế nào để phân biệt? Nội dung bài viết dưới đây sẽ giúp bạn trả lời câu hỏi trên.

Các triệu chứng polyp túi mật có thể gặp:

Triệu chứng polyp túi mật thường rất mơ hồ hoặc gần như không gây ra bất kỳ triệu chứng nào. Chúng thường được tìm thấy tình cờ sau khi siêu âm túi mật. Đôi khi các triệu chứng polyp túi mật có thể tương tự như tình trạng viêm túi mật.

Các triệu chứng polyp túi mật có thể gặp bao gồm:

  • Đau mật (cường độ ít hơn do sỏi mật gây ra)
  • Khó tiêu
  • Vàng da
  • Nước tiểu sẫm màu
  • Viêm đường mật (đau bụng, sốt, vàng da)
  • Viêm tụy (đau bụng, tăng amylase hoặc lipase).
Triệu chứng polyp túi mật thường không rõ ràng. Polyp túi mật thường phát hiện qua siêu âm
Triệu chứng polyp túi mật gây ra có thể giống với bệnh lý sỏi túi mật.

Bảng so sánh triệu chứng polyp túi mật với các bệnh lý túi mật khác

Polyp túi mậtSỏi mậtViêm túi mật
Triệu chứngKhông có rối loạn tiêu hóa hoặc đau kiểu mậtĐau bụng không mật hoặc vàng da nếu tắc nghẽn ống mậtĐau hạ sườn phải, đau quặn mật thường kéo dài> 6 giờ, buồn nôn, nôn, sốt
Dấu hiệuKhông hoặc đau bụngKhông có; đau bụng, vàng da nếu tắc nghẽn ống dẫn lưu độngSốt, đau vùng dưới sườn bên phải khi cảm hứng (dấu hiệu Murphy), vàng da nhẹ
Các tính năng khácVàng da hoặc viêm tụy nếu polyp làm tắc ống mật chủVàng da tắc nghẽn. 
Tăng hóa chất gan không liên tục nếu sỏi choledocho
Tăng bạch cầu, hóa chất gan bất thường
Bảng so sánh triệu chứng polyp túi mật và bệnh lý túi mật khác

Các phương pháp chẩn đoán polyp túi mật

Việc chẩn đoán polyp túi mật hiện nay có rất nhiều phương pháp và rất ít khi dựa vào các triệu chứng polyp túi mật. Phổ biến nhất vẫn là siêu âm. Trong 1 số trường hợp cần kết hợp các phương pháp chẩn đoán khác nhau nhằm giúp bác sĩ có nhận định chính xác hơn trong vấn đề ra quyết định điều trị.

Một số phương pháp chẩn đoán polyp túi mật:

Siêu âm

Là thủ thuật không xâm lấn, thuận tiện và dễ thực hiện, giá thành rẻ, có thể được sử dụng như lựa chọn hàng đầu để chẩn đoán. Nó có thể hiển thị trực tiếp vị trí, kích thước, hình dạng, cấu trúc bên trong của tổn thương và mối liên hệ với thành túi mật, đồng thời có thể xác định sự có hay không của sỏi cùng tồn tại.

Hiện tại, độ nhạy và độ đặc hiệu để chẩn đoán polyp túi mật lần lượt là 90,1% và 93,9%. Siêu âm chế độ B có thể tìm thấy các polyp có đường kính> 5 mm và độ nhạy để tìm các polyp có đường kính> 10 mm là 96%.

Tuy nhiên siêu âm ổ bụng cũng có khi bị hạn chế bởi thói quen cơ thể của bệnh nhân, và những hạn chế về kỹ thuật có thể dẫn đến đánh giá kích thước polyp bị sai lệch. Do đó, rất khó phân biệt tình trạng của polyp là lành tính hay ác tính chỉ bằng siêu âm ổ bụng.

sieu am tui mat
Siêu âm là lựa chọn hàng đầu để chẩn đoán polyp túi mật

Siêu âm nội soi

Siêu âm nội soi cho độ chính xác chẩn đoán cao hơn đáng kể so với siêu âm thông thường, có thể lên tới 98%. Cấu trúc ba lớp của thành túi mật có thể được hiển thị rõ ràng, có giá trị cao để phân biệt polyp có khối và không có khối u.

Siêu âm tăng cường độ tương phản

Những tiến bộ trong siêu âm ở Mỹ đã góp phần cải thiện việc phát hiện các tổn thương túi mật dạng polyp. Ở Mỹ, chất cản quang dựa trên galactose được sử dụng để chẩn đoán phân biệt các tổn thương túi mật dạng polyp. Với độ chính xác là 85%, độ nhạy 100% và độ đặc hiệu 77%. Trong ung thư túi mật, việc nhuộm khắp khối u là liên tục, phù hợp với hiện tượng tăng mạch lan tỏa. Trong polyp túi mật lành tính, nhuộm rải rác với hình ảnh dòng chảy đều và nhỏ. Do đó, các mô hình tăng cường độ tương phản siêu âm cho thấy các mối liên quan đặc trưng với các phát hiện bệnh lý, đóng vai trò như những bổ trợ có giá trị trong chẩn đoán các bệnh túi mật, và phân biệt ung thư biểu mô túi mật với các tổn thương bệnh túi mật polypoid khác.

Siêu âm nội soi (EUS)

EUS tốt hơn siêu âm Bụng. EUS đã được sử dụng rộng rãi để chẩn đoán khối u ác tính đường tiêu hóa, tổn thương dưới niêm mạc của đường tiêu hóa và các bất thường thấy trên hình ảnh cắt ngang. EUS cũng được khuyến nghị để kiểm tra thêm. Vì hình ảnh thu được khác biệt hơn so với siêu âm thông thường giúp cho việc phân biệt polyp cholesterol với các polyp khác và độ chính xác tổng thể để phân biệt khối u ung thư với khối không phải khối u ung thư đã được báo cáo là 91%.

Chụp cắt lớp vi tính (CT).

CT bụng không có khả năng phát hiện tổn thương mật độ thấp và đặc biệt là khi polyp túi mật có đường kính nhỏ hơn 10 mm. Nhưng nó hữu ích để nghiên cứu ung thư biểu mô túi mật. Những tiến bộ trong CT đa dãy đã làm tăng tỷ lệ chính xác để chẩn đoán phân biệt với polyp túi mật và CT thường cho thấy ung thư biểu mô túi mật dạng polyp là một khối lượng mô trong ruột tăng cường, dày đặc hơn mật xung quanh và có thể đáng tin cậy. Xác định các tổn thương tân sinh. Đặc biệt, CT xoắn ốc có thể hữu ích để đánh giá các tổn thương polypoid nhỏ của túi mật, đồng thời có thể phân biệt các tổn thương polypoid nhỏ tân sinh và không ung thư của túi mật và xác định một cách đáng tin cậy sự hiện diện của các tổn thương tân sinh cần được cắt bỏ. Kích thước lớn hơn 1,5 cm, hình dạng không cuống, và cảm nhận trên hình ảnh không cản quang là những yếu tố chính giúp phân biệt khối u với polyp túi mật không phải khối u từ 1 cm trở lên.

Chụp cộng hưởng từ

Chụp cộng hưởng từ chưa được sử dụng rộng rãi để đánh giá các bệnh lý túi mật, có nhược điểm là độ phân giải không gian và độ tương phản kém. Trong số quần chúng thuộc về giống san hô, tổn thương ác tính chứng minh cải tiến sớm và kéo dài, trong khi tổn thương lành tính cho thấy tăng cường đầu với rửa trôi sau này. Nó đã báo cáo rằng các khối u ác tính khác nhau có thể hiển thị cường độ tín hiệu cao trên khuếch tán-weighted MRI (DWI), phản ánh cao tính tế bào và / hoặc thời gian thư giãn dài của chúng. Do đó, DWI giá trị b cao có thể hữu ích để phân biệt giữa tổn thương túi mật polypoid lành tính và ác tính.

Chụp cắt lớp phát xạ positron

Nó đã được trình bày một loạt trường hợp nhỏ bệnh nhân có polyp túi mật đã được chẩn đoán chính xác trước mổ là lành tính hay ác tính với việc sử dụng phương pháp quét cắt lớp phát xạ positron với deoxyglucose 18 đánh dấu F.

Chụp túi mật tĩnh mạch

Chụp túi mật qua đường tĩnh mạch là một kỹ thuật an toàn, nhưng polyp túi mật không trở nên đục đủ.

Phương pháp tiếp cận xuyên mao mạch

Chọc hút kim nhỏ qua da và nội soi túi mật qua da đã được báo cáo là những kỹ thuật chẩn đoán chính xác trong đánh giá polyp túi mật, nhưng nó tốn thời gian và bệnh nhân kém dung nạp. Ngoài ra, độ chính xác chẩn đoán của chụp mật tụy ngược dòng qua nội soi không đạt yêu cầu, bởi vì điều này chỉ có thể cho thấy một khuyết tật lấp đầy trong túi mật mà không phác họa bề mặt của tổn thương polypoid.

Triệu chứng polyp túi mật khá mơ hồ và khó chẩn đoán vì dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác trong túi mật. Do đó bạn nên có thói quen khám sức khỏe định kỳ 6 – 12 tháng một lần để biết tình trạng sức khỏe của mình. Khi gặp các triệu chứng như trên, bạn không nên chủ quan tự ý mua thuốc uống, hãy đến gặp bác sĩ để được thăm khám và sàng lọc các nguyên nhân.

5 2 phiếu bầu
Xếp hạng bài viết
Chia sẻ bài viết lên:
- Bs. Chu Công Hòa

Bác sĩ đa khoa y học cổ truyền Đại học Quân y 1975-1981. Chuyên khoa nội thần kinh. Bác sĩ chuyên khoa Đông y tại viện y học cổ truyền Việt Nam. Chuyên gia châm cứu tại Viện châm cứu Trung Ương tại Liên Bang Nga. 30 năm khám chữa bệnh bằng Đông y, đặc biệt là tiêu hóa và nội tiết.

Đăng ký
Thông báo về
guest
0 Bình luận
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả các bình luận