Triệu chứng polyp túi mật khác với triệu chứng bệnh lý túi mật khác không? Làm thế nào chẩn đoán polyp trong túi mật chính xác?

Triệu chúng polyp túi mật thường không rõ ràng. Rất nhiều người không hề có bât kỳ triệu chứng gì. Vậy để biết mình có bị polyp trong túi mật hay không cần làm gì? Hãy theo dõi bài viết dưới đây để giúp bản thân chẩn đoán có bị polyp trong túi mật hay không nhé.!

Các triệu chứng điển hình của polyp túi mật

Polyp túi mật thường không gây ra bất kỳ triệu chứng nào. Chúng thường được tìm thấy tình cờ sau khi siêu âm túi mật. Đôi khi các triệu chứng của polyp túi mật có thể tương tự như tình trạng viêm túi mật.

Các triệu chứng do polyp túi mật có thể gặp bao gồm đau mật (cường độ ít hơn do sỏi mật gây ra), khó tiêu, vàng da tắc nghẽn (viêm màng cứng, nước tiểu sẫm màu), viêm đường mật (đau bụng, sốt, vàng da) và viêm tụy (đau bụng, tăng amylase hoặc lipase).

Bảng so sánh triệu chứng polyp túi mật với các bệnh lý túi mật khác

Polyp túi mậtSỏi mậtViêm túi mật
Triệu chứngKhông có rối loạn tiêu hóa hoặc đau kiểu mậtĐau bụng không mật hoặc vàng da nếu tắc nghẽn ống mậtĐau hạ sườn phải, đau quặn mật thường kéo dài> 6 giờ, buồn nôn, nôn, sốt
Dấu hiệuKhông hoặc đau bụngKhông có; đau bụng, vàng da nếu tắc nghẽn ống dẫn lưu độngSốt, đau vùng dưới sườn bên phải khi cảm hứng (dấu hiệu Murphy), vàng da nhẹ
Các tính năng khácVàng da hoặc viêm tụy nếu polyp làm tắc ống mật chủVàng da tắc nghẽn. 
Tăng hóa chất gan không liên tục nếu sỏi choledocho
Tăng bạch cầu, hóa chất gan bất thường

Các phương pháp chẩn đoán polyp túi mật

Việc chẩn đoán polyp túi mật hiện nay có rất nhiều phương pháp. Phổ biến nhất vẫn là siêu âm. Trong 1 số trường hợp cần kết hợp các phương pháp chẩn đoán khác nhau nhằm giúp bác sĩ có nhận định chính xác hơn trong vấn đề ra quyết định điều trị.

Một số phương pháp chẩn đoán polyp túi mật:

Siêu âm

Không xâm lấn, thuận tiện và dễ thực hiện, giá thành rẻ, có thể được sử dụng như lựa chọn hàng đầu để chẩn đoán. Nó có thể hiển thị trực tiếp vị trí, kích thước, hình dạng, cấu trúc bên trong của tổn thương và mối liên hệ với thành túi mật, đồng thời có thể xác định sự có hay không của sỏi cùng tồn tại.

Hiện tại, độ nhạy và độ đặc hiệu để chẩn đoán polyp túi mật lần lượt là 90,1% và 93,9%. Siêu âm chế độ B có thể tìm thấy các polyp có đường kính> 5 mm và độ nhạy để tìm các polyp có đường kính> 10 mm là 96%.

Siêu âm ổ bụng thường bị hạn chế bởi thói quen cơ thể của bệnh nhân, và những hạn chế về kỹ thuật có thể dẫn đến sự biến đổi trong diễn giải. Siêu âm có thể đánh giá kích thước polyp bị sai lệch. Do đó, rất khó phân biệt tình trạng của polyp là lành tính hay ác tính chỉ bằng siêu âm ổ bụng.

sieu am tui mat
Siêu âm là lựa chọn hàng đầu để chẩn đoán polyp túi mật

Siêu âm nội soi

Siêu âm nội soi cho độ chính xác chẩn đoán cao hơn đáng kể so với siêu âm thông thường, có thể lên tới 98%. Cấu trúc ba lớp của thành túi mật có thể được hiển thị rõ ràng, có giá trị cao để phân biệt polyp có khối và không có khối u.

Siêu âm tăng cường độ tương phản

Những tiến bộ ở Mỹ đã góp phần cải thiện việc phát hiện các tổn thương túi mật dạng polyp. Ở Mỹ, chất cản quang dựa trên galactose được sử dụng để chẩn đoán phân biệt các tổn thương túi mật dạng polyp. Khi các loại khuếch tán và phân nhánh được coi là dấu hiệu của ung thư, độ chính xác là 85%, độ nhạy 100% và độ đặc hiệu 77%. Trong ung thư túi mật, việc nhuộm khắp khối u là liên tục, phù hợp với hiện tượng tăng mạch lan tỏa. Trong polyp túi mật lành tính, nhuộm rải rác với hình ảnh dòng chảy đều và nhỏ. Do đó, các mô hình tăng cường độ tương phản siêu âm cho thấy các mối liên quan đặc trưng với các phát hiện bệnh lý, đóng vai trò như những bổ trợ có giá trị trong chẩn đoán các bệnh túi mật, và phân biệt ung thư biểu mô túi mật với các tổn thương bệnh túi mật polypoid khác.

Siêu âm nội soi (EUS)

EUS tốt hơn siêu âm B. EUS đã được sử dụng rộng rãi để chẩn đoán khối u ác tính đường tiêu hóa, tổn thương dưới niêm mạc của đường tiêu hóa và các bất thường thấy trên hình ảnh cắt ngang. EUS cũng được khuyến nghị để kiểm tra thêm. Vì hình ảnh thu được khác biệt hơn so với siêu âm thông thường. Những hình ảnh như vậy có vẻ hứa hẹn để phân biệt polyp cholesterol với các polyp khác và độ chính xác tổng thể để phân biệt khối u ung thư với khối không phải khối u ung thư đã được báo cáo là 91%.
Liệu EUS đơn độc có thể được sử dụng để xác định chiến lược điều trị polyp túi mật hay không vẫn chưa rõ ràng. Chỉ riêng EUS không đủ trong việc xác định quá trình điều trị ở những khối polyp nhỏ hơn 10 mm, nhưng nó có thể chính xác hơn siêu âm qua ổ bụng trong việc xác định liệu polyp túi mật có phải là ung thư hay không. Phân biệt giữa các tổn thương không phải ung thư, ung thư và có khả năng ác tính là một vấn đề khó chẩn đoán chính xác. Và các lựa chọn điều trị cho những tổn thương này vẫn còn nhiều tranh cãi. EUS được coi là vượt trội hơn so với US thông thường trong việc hình ảnh tổn thương túi mật, vì EUS có thể cung cấp hình ảnh độ phân giải cao của các tổn thương nhỏ với tần số siêu âm cao hơn (7,5–12 MHz so với 3,5–5 MHz). Mặc dù EUS chính xác hơn US, nhưng độ chính xác để phân biệt khối u ác tính dưới 1,0 cm của nó là thấp.

Chụp cắt lớp vi tính (CT).

CT bụng không có khả năng phát hiện tổn thương mật độ thấp và đặc biệt là khi polyp túi mật có đường kính nhỏ hơn 10 mm. Nhưng nó hữu ích để nghiên cứu ung thư biểu mô túi mật. Những tiến bộ trong CT đa dãy đã làm tăng tỷ lệ chính xác để chẩn đoán phân biệt với polyp túi mật và CT thường cho thấy ung thư biểu mô túi mật dạng polyp là một khối lượng mô trong ruột tăng cường, dày đặc hơn mật xung quanh và có thể đáng tin cậy. Xác định các tổn thương tân sinh. Đặc biệt, CT xoắn ốc có thể hữu ích để đánh giá các tổn thương polypoid nhỏ của túi mật, đồng thời có thể phân biệt các tổn thương polypoid nhỏ tân sinh và không ung thư của túi mật và xác định một cách đáng tin cậy sự hiện diện của các tổn thương tân sinh cần được cắt bỏ. Kích thước lớn hơn 1,5 cm, hình dạng không cuống, và cảm nhận trên hình ảnh không cản quang là những yếu tố chính giúp phân biệt khối u với polyp túi mật không phải khối u từ 1 cm trở lên.

Chụp cộng hưởng từ

Chụp cộng hưởng từ chưa được sử dụng rộng rãi để đánh giá các bệnh lý túi mật, có nhược điểm là độ phân giải không gian và độ tương phản kém. Trong số quần chúng thuộc về giống san hô, tổn thương ác tính chứng minh cải tiến sớm và kéo dài, trong khi tổn thương lành tính cho thấy tăng cường đầu với rửa trôi sau này. Nó đã báo cáo rằng các khối u ác tính khác nhau có thể hiển thị cường độ tín hiệu cao trên khuếch tán-weighted MRI (DWI), phản ánh cao tính tế bào và / hoặc thời gian thư giãn dài của chúng. Do đó, DWI giá trị b cao có thể hữu ích để phân biệt giữa tổn thương túi mật polypoid lành tính và ác tính.

Chụp cắt lớp phát xạ positron

Nó đã được trình bày một loạt trường hợp nhỏ bệnh nhân có polyp túi mật đã được chẩn đoán chính xác trước mổ là lành tính hay ác tính với việc sử dụng phương pháp quét cắt lớp phát xạ positron với deoxyglucose 18 đánh dấu F.

Chụp túi mật tĩnh mạch

Chụp túi mật qua đường tĩnh mạch là một kỹ thuật an toàn, nhưng polyp túi mật không trở nên đục đủ.

Phương pháp tiếp cận xuyên mao mạch

Chọc hút kim nhỏ qua da và nội soi túi mật qua da đã được báo cáo là những kỹ thuật chẩn đoán chính xác trong đánh giá polyp túi mật, nhưng nó tốn thời gian và bệnh nhân kém dung nạp. Ngoài ra, độ chính xác chẩn đoán của chụp mật tụy ngược dòng qua nội soi không đạt yêu cầu, bởi vì điều này chỉ có thể cho thấy một khuyết tật lấp đầy trong túi mật mà không phác họa bề mặt của tổn thương polypoid.

Chia sẻ bài viết lên:
5 1 ủng hộ
Xếp hạng bài viết
Đăng ký
Thông báo về
guest
0 Bình luận
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả các bình luận
0
Chúng tôi mong chờ ý kiến từ bạn!x
()
x